VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP NẶNG DO VIRUT CORONA CHỦNG MỚI (Covid-19) – PHẦN 2

Trang chủ Thông tin hữu ích Bệnh do virus VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP NẶNG DO VIRUT CORONA CHỦNG MỚI (Covid-19) – PHẦN 2

6. Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa máu thay đổi không đặc hiệu:

  • Số lượng bạch cầu trong máu có thể bình thường hoặc giảm; số lượng bạch cầu lympho thường giảm, đặc biệt nhóm diễn biến nặng.
  • Protein C phản ứng (CRP) bình thường hoặc tăng, procalcitonin (PCT) thường bình thường hoặc tăng nhẹ. Một số trường hợp có thể tăng nhẹ men gan ALT, AST.
  • Trong các trường hợp diễn biến nặng có các biểu hiện suy chức năng các cơ quan, rối loạn đông máu, tăng D-dimer, rối loạn điện giải và toan kiềm.

7. Chụp X-quang và chụp cắt lớp (CT) phổi

  • Ở giai đoạn sớm hoặc chỉ viêm đường hô hấp trên, hình ảnh X-quang bình thường.
  • Khi có viêm phổi, tổn thương thường ở hai bên với dấu hiệu viêm phổi kẽ hoặc đám mờ (hoặc kính mờ) lan tỏa, ở ngoại vi hay thùy dưới. Tổn thương có thể tiến triển nhanh trong hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển. Ít khi gặp dấu hiệu tạo hang hay tràn dịch, tràn khí màng phổi.

8. Xét nghiệm khẳng định căn nguyên

Phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen từ các mẫu bệnh phẩm.

9. Chẩn đoán

9.1. Trường hợp bệnh nghi ngờ

Bao gồm các trường hợp:

Người bệnh có sốt và/hoặc viêm đường hô hấp cấp tính không lý giải được bằng các nguyên nhân khác.

Người bệnh có bất kỳ triệu chứng hô hấp nào VÀ có tiền sử đến, đi qua, ở, hoặc về từ vùng dịch tễ (*) có bệnh covid-19 trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các triệu chứng HOẶC tiếp xúc gần (**) với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc đã được xác định nhiễm covid-19 trong khoảng 14 ngày trước khi khởi phát các triệu chứng.

* Vùng dịch tễ:

Được xác định là những quốc gia, vùng lãnh thổ có ghi nhận ca mắc covid-19 lây truyền nội địa, hoặc nơi có ổ dịch đang hoạt động tại Việt Nam theo “Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống covid-19” của Bộ Y tế và được cập nhật bởi Cục Y tế dự phòng.

** Tiếp xúc gần, bao gồm các trường hợp:

(1). Tiếp xúc tại các cơ sở y tế, gồm các trường hợp: trực tiếp chăm sóc người bệnh covid-19; làm việc cùng với nhân viên y tế mắc covid-19; tới thăm người bệnh hoặc ở cùng phòng bệnh có người bệnh mắc covid-19.

(2). Tiếp xúc trực tiếp trong khoảng cách ≤ 2 mét với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh.

(3). Sống cùng nhà với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh.

(4). Cùng nhóm làm việc hoặc cùng phòng làm việc với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh.

(5). Cùng nhóm: du lịch, công tác, vui chơi, buổi liên hoan, cuộc họp… với ca bệnh xác định hoặc ca bệnh nghi ngờ trong thời kỳ mắc bệnh.

(6). Di chuyển trên cùng phương tiện (ngồi cùng hàng, trước hoặc sau hai hàng ghế) với trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc xác định mắc covid-19 trong thời kỳ mắc bệnh.

9.2. Trường hợp bệnh xác định

Là trường hợp bệnh nghi ngờ hoặc bất cứ người nào có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 được thực hiện bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định. Trong đó xét nghiệm kỹ thuật real-time RT-PCR và giải trình tự gen từ các mẫu bệnh phẩm được coi là có giá trị khẳng định cao nhất.

10. Phân loại các thể lâm sàng

Bệnh COVID-19 có các thể bệnh trên lâm sàng như sau:

10.1. Thể không triệu chứng

Là người nhiễm SARS-CoV-2 được khẳng định bằng xét nghiệm realtime RT-PCR dương tính, nhưng không có triệu chứng lâm sàng.

10.2. Mức độ nhẹ, hay thể viêm đường hô hấp trên cấp tính

  • Người bệnh nhiễm SARS-CoV-2 có các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ.
  • Không có các dấu hiệu của viêm phổi hoặc thiếu oxy.

10.3. Mức độ vừa, hay viêm phổi

  • Người lớn và trẻ lớn: bị viêm phổi, gồm các triệu chứng sốt, ho, khó thở, thở nhanh và không có dấu hiệu viêm phổi nặng, SpO2 ≥ 90% khi thở khí trời.
  • Trẻ nhỏ: trẻ có ho hoặc khó thở và thở nhanh. Thở nhanh được xác định khi nhịp thở ≥ 60 lần/phút ở trẻ dưới 2 tháng; ≥ 50 lần/phút ở trẻ từ 2 – 11 tháng; ≥ 40 lần/phút ở trẻ từ 1 – 5 tuổi và không có các dấu hiệu của viêm phổi nặng.

Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, tuy nhiên, hình ảnh X-quang, siêu âm hoặc cắt lớp phổi thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc phát hiện các biến chứng.

10.4. Mức độ nặng, hay viêm phổi nặng

Người lớn và trẻ lớn:

Sốt hoặc nghi ngờ nhiễm trùng hô hấp, kèm theo bất kỳ một dấu hiệu sau: nhịp thở > 30 lần/phút, khó thở nặng, hoặc SpO2 ≤ 93% khi thở khí phòng.

Trẻ nhỏ:

  • Ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các dấu hiệu sau đây: tím tái hoặc SpO2 < 90%; suy hô hấp nặng (thở rên, rút lõm lồng ngực);
  • Hoặc trẻ được chẩn đoán viêm phổi và có bất kỳ dấu hiệu nặng sau: không thể uống/bú được; rối loạn ý thức (li bì hoặc hôn mê); co giật.
  • Có thể có các dấu hiệu khác của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, thở nhanh (tần số thở/phút như trên).

Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, chụp X-quang phổi để xác định các biến chứng.

10.5. Mức độ nguy kịch, bao gồm các trường hợp

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS)

  • Khởi phát: các triệu chứng hô hấp mới hoặc xấu đi trong vòng một tuần kể từ khi có các triệu chứng lâm sàng.
  • X-quang, CT scan hoặc siêu âm phổi: hình ảnh mờ hai phế trường mà không phải do tràn dịch màng phổi, xẹp thùy phổi hoặc các nốt ở phổi.
  • Nguồn gốc của phù phổi không phải do suy tim hoặc quá tải dịch. Cần đánh giá khách quan (siêu âm tim) để loại trừ phù phổi do áp lực thủy tĩnh nếu không thấy các yếu tố nguy cơ.
  • Thiếu ôxy máu: ở người lớn phân loại dựa vào chỉ số PaO2/FiO2 (P/F) và SpO2/FiO2 (S/F). Ở trẻ em dựa vào chỉ số OI, OSI cho những trường hợp thở máy xâm nhập và PaO2/FiO2 hay SpO2/FiO2 cho thở CPAP hay thở máy không xâm nhập (NIV).

10.6. Nhiễm trùng huyết (sepsis)

Người lớn có dấu hiệu rối loạn chức năng các cơ quan:

  • Thay đổi ý thức: ngủ gà, lơ mơ, hôn mê
  • Khó thở hoặc thở nhanh, độ bão hòa ôxy thấp
  • Nhịp tim nhanh, mạch bắt yếu, chi lạnh, hoặc hạ huyết áp, da nổi vân tím
  • Thiểu niệu hoặc vô niệu
  • Xét nghiệm có rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu, nhiễm toan, tăng lactate, tăng bilirubine…

Trẻ em:

khi nghi ngờ hoặc khẳng định do nhiễm trùng và có ít nhất 2 tiêu chuẩn của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và một trong số đó phải là thay đổi thân nhiệt hoặc số lượng bạch cầu bất thường.

10.7. Sốc nhiễm trùng

Người lớn:

Hạ huyết áp kéo dài mặc dù đã hồi sức dịch, phải sử dụng thuốc vận mạch để duy trì huyết áp động mạch trung bình (MAP) ≥65 mmHg và nồng độ lactate huyết thanh >2 mmol/L.

Trẻ em sốc nhiễm trùng xác định khi có:

  • Hạ huyết áp: trẻ < 1 tuổi huyết áp < 70 mmHg; trẻ từ 1-10 tuổi huyết áp < 70+2 x tuổi; trẻ > 10 tuổi huyết áp <90 mmHg).
  • Hoặc có bất kỳ 2-3 dấu hiệu sau: thay đổi ý thức, nhịp tim nhanh hoặc chậm (< 90 nhịp/phút hoặc >160 nhịp/phút ở trẻ nhũ nhi, và 150 nhịp/phút ở trẻ nhỏ); thời gian làm đầy mao mạch kéo dài (>2 giây); hoặc giãn mạch ấm/mạch nẩy; thở nhanh; da nổi vân tím hoặc có chấm xuất huyết hoặc ban xuất huyết; tăng nồng độ lactate; thiểu niệu; tăng hoặc hạ thân nhiệt.

10.8. Các biến chứng nặng – nguy kịch khác

Nhồi máu phổi, đột quỵ, mê sảng. Cần theo dõi sát và áp dụng các biện pháp chẩn đoán xác định khi nghi ngờ và có biện pháp điều trị phù hợp.

11. Điều trị bệnh covid-19

11.1. Nguyên tắc điều trị chung

Phân loại người bệnh và xác định nơi điều trị theo các mức độ nghiêm trọng của bệnh:

  • Các trường hợp bệnh nghi ngờ (có thể xem như tình trạng cấp cứu): cần được khám, theo dõi và cách ly ở khu riêng tại các cơ sở y tế, lấy bệnh phẩm đúng cách để làm xét nghiệm đặc hiệu chẩn đoán xác định.
  • Trường hợp bệnh xác định cần được theo dõi và điều trị cách ly hoàn toàn.
  • Ca bệnh nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ) điều trị tại các khoa phòng thông thường.
  • Ca bệnh nặng (viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết) cần được điều trị tại các phòng cấp cứu của các khoa phòng hoặc hồi sức tích cực.
  • Ca bệnh nặng-nguy kịch: (suy hô hấp nặng, ARDS, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan) cần được điều trị hồi sức tích cực.

Do chưa có thuốc đặc hiệu, điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng là chủ yếu.

Cá thể hóa các biện pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc biệt là các ca bệnh nặng, nguy kịch.

Có thể áp dụng một số phác đồ điều trị nghiên cứu được Bộ Y tế cho phép.

Theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các tình trạng nặng, biến chứng của bệnh.

11.2. Các biện pháp theo dõi và điều trị chung

  • Nghỉ ngơi tại giường, phòng bệnh cần được đảm báo thông thoáng, có thể sử dụng hệ thống lọc không khí hoặc các biện pháp khử trùng phòng bệnh khác như đèn cực tím (nếu có).
  • Vệ sinh mũi họng, có thể giữ ẩm mũi bằng nhỏ dung dịch nước muối sinh lý, xúc miệng họng bằng các dung dịch vệ sinh miệng họng thông thường.
  • Giữ ấm
  • Uống đủ nước, đảm bảo cân bằng dịch, điện giải.
  • Thận trọng khi truyền dịch cho người bệnh viêm phổi nhưng không có dấu hiệu của sốc.
  • Đảm bảo dinh dưỡng và nâng cao thể trạng, bổ sung vitamin nếu cần thiết. Với các người bệnh nặng – nguy kịch, áp dụng hướng dẫn dinh dưỡng của Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc đã ban hành.
  • Hạ sốt nếu sốt cao, có thể dùng paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, không quá 60 mg/kg/ngày cho trẻ em và không quá 2 gam/ngày với người lớn.
  • Giảm ho bằng các thuốc giảm ho thông thường nếu cần thiết.
  • Đánh giá, điều trị, tiên lượng các tình trạng bệnh lý mạn tính kèm theo (nếu có).
  • Tư vấn, hỗ trợ tâm lý, động viên người bệnh.
  • Theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu lâm sàng, tiến triển của tổn thương phổi trên phim X-quang và/hoặc CT phổi, đặc biệt trong khoảng ngày thứ 7-10 của bệnh, phát hiện các dấu hiệu tiến triển nặng của bệnh như suy hô hấp, suy tuần hoàn để có các biện pháp can thiệp kịp thời.
  • Tại các cơ sở điều trị cần có các trang thiết bị, dụng cụ cấp cứu tối thiểu: máy theo dõi độ bão hòa oxy, hệ thống/bình cung cấp oxy, thiết bị thở oxy (gọng mũi, mask thông thường, mask có túi dự trữ), bóng, mặt nạ, và dụng cụ đặt ống nội khí quản phù hợp các lứa tuổi.

11.3. Điều trị một số trường hợp cụ thể

Điều trị suy hô hấp:

  • Thở oxy ngay với trường hợp viêm đường hô hấp cấp nặng có suy hô hấp, thiếu oxy máu, sốc để đạt đích SpO2 > 94%
  • Theo dõi sát tình trạng người bệnh để phát hiện các dấu hiệu nặng, thất bại với liệu pháp thở oxy để có can thiệp kịp thời.

Điều trị suy hô hấp nguy kịch và hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển:

  • Khi tình trạng giảm oxy máu không được cải thiện bằng các biện pháp thở ôxy, SpO2 ≤ 92%, hoăc/và gắng sức hô hấp, có thể cân nhắc chỉ định thở thở oxy dòng cao qua gọng mũi (High Flow Nasal Oxygen), CPAP, hoặc thở máy không xâm nhập BiPAP.
  • Nếu tình trạng thiếu oxy không cải thiện với các biện pháp hỗ trợ hô hấp không xâm nhập, cần đặt ống nội khí quản và thở máy xâm nhập.
  • Trường hợp thiếu oxy nặng, dai dẳng, thất bại với các biện pháp điều trị thông thường, cân nhắc chỉ định và sử dụng các kỹ thuật trao đổi oxy qua màng ngoài cơ thể (ECMO) cho từng trường hợp cụ thể và thực hiện ở những nơi có đủ điều kiện triển khai kỹ thuật này.
  • Do ECMO chỉ có thể thực hiện được ở một số cơ sở y tế lớn, nên trong trường hợp cân nhắc chỉ định ECMO, các cơ sở cần liên hệ, vận chuyển người bệnh sớm và tuân thủ quy trình vận chuyển người bệnh do Bộ Y tế quy định.

Điều trị sốc nhiễm trùng:

Hồi sức dịch:

  • Sử dụng dịch tinh thể đẳng trương như nước muối sinh lý hay Ringer lactat. Tránh dùng các dung dịch tinh thể nhược trương, dung dịch Haes-steril, Gelatin để hồi sức dịch.
  • Cần theo dõi sát các dấu hiệu của quá tải dịch trong khi hồi sức dịch như suy hô hấp nặng hơn, gan to, nhịp tim nhanh, tĩnh mạch cổ nổi, phổi có ran ẩm, phù phổi…nếu xuất hiện, cần giảm hoặc dừng truyền dịch.
  • Theo dõi các dấu hiệu cải thiện tưới máu: huyết áp trung bình > 65 mmHg cho người lớn và theo lứa tuổi ở trẻ em; lượng nước tiểu (>0.5 ml/kg/giờ cho người lớn, và >1 ml/kg/giờ cho trẻ em), cải thiện thời gian làm đầy mao mạch, màu sắc da, tình trạng ý thức, và nồng độ lactat trong máu.

Thuốc vận mạch: nếu tình trạng huyết động, tưới máu không cải thiện, cần cho thuốc vận mạch sớm.

Cấy máu và thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm cần sử dụng sớm trong vòng một giờ xác định sốc nhiễm trùng.

Kiểm soát đường máu: giữ nồng độ đường máu từ 8-10 mmol/L, canxi máu, albumin máu, truyền albumin khi nồng độ albumin < 30 g/L, giữ albumin máu ≥ 35 g/L.

Trường hợp có các yếu tố nguy cơ suy thượng thận cấp, hoặc sốc phụ thuộc catecholamin, có thể cho hydrocortison liều thấp.

Truyền khối hồng cầu khi cần, giữ nồng độ huyết sắc tố ≥ 10 g/dl.

Điều trị hỗ trợ chức năng các cơ quan:

Tùy từng tình trạng cụ thể của mỗi người bệnh để có các biện pháp hỗ trợ thích hợp.

  • Hỗ trợ chức năng thận: đảm bảo huyết động, cân bằng nước và điện giải, thuốc lợi tiểu khi cần thiết. Nếu tình trạng suy thận nặng, suy chức năng đa cơ quan và/hoặc có quá tải dịch, chỉ định áp dụng các biện pháp thận thay thế như lọc máu liên tục, lọc máu ngắt quãng, hoặc thẩm phân phúc mạc tùy điều kiện của cơ sở điều trị.
  • Hỗ trợ chức năng gan: nếu có suy gan
  • Điều chỉnh rối loạn đông máu: truyền tiểu cầu, plasma tươi, các yếu tố đông máu nếu cần thiết.

11.4. Tiêu chuẩn ra viện

Người bệnh được xuất viện khi có đủ các tiêu chuẩn sau:

  • Hết sốt ít nhất 3 ngày.
  • Các triệu chứng lâm sàng cải thiện, toàn trạng tốt, các dấu hiệu sinh tồn ổn định, chức năng các cơ quan bình thường, xét nghiệm máu trở về bình thường, X-quang phổi cải thiện.
  • Ba mẫu bệnh phẩm (các mẫu lấy cách nhau ít nhất 1 ngày) xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 bằng phương pháp RT-PCR.

Theo dõi sau xuất viện:

Người bệnh cần tiếp tục được cách ly phù hợp tại nhà dưới sự giám sát của y tế cơ sở và CDC địa phương thêm 14 ngày nữa và theo dõi thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày. Nếu thân nhiệt cao hơn 38 độ C ở hai lần đo liên tiếp hoặc có các dấu hiệu bất thường khác, phải đến khám lại ngay tại các cơ sở y tế.

12. Phòng tránh lây nhiễm covid-19

Dự phòng lây nhiễm covid-19 là vô cùng quan trọng, vừa giúp bảo vệ sức khỏe, vừa giúp ngăn chặn dịch bệnh lây lan rộng trong cộng đồng.

Mặc dù khẩu trang chưa chứng minh một cách chắc chắn sẽ ngăn được nhiễm virut corona, nhưng đeo khẩu trang là điều cần thiết giúp tránh nhiễm bệnh và tránh lây nhiễm cho người khác.

Khi chạm vào các đồ vật, các bề mặt phẳng, tay nắm cửa, điện thoại, bắt tay, thậm chí chạm vào đồ vật hay các thành viên trong gia đình… đều có nguy cơ lây nhiễm covid-19.

Một số biện pháp cụ thể giúp phòng ngừa lây nhiễm covid-19:

  • Đeo khẩu trang khi đi ra ngoài, có thể sử dụng khẩu trang vải, khẩu trang y tế, thậm chí là mảnh vải sạch che kín mũi và miệng.
  • Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước trong ít nhất 20 giây, đặc biệt là sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn, sau khi xì mũi, ho hoặc hắt hơi.
  • Nếu không có sẵn xà phòng và nước, hãy sử dụng chất khử trùng tay chứa cồn với ít nhất 60% cồn. Luôn rửa tay bằng xà phòng và nước nếu tay bẩn, và có thể nhìn thấy được vết bẩn.
  • Trường hợp không có xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay khô, có thể rửa tay bằng nước sinh hoạt thông thường.
  • Không chạm tay vào mắt, mũi và miệng khi mà tay không được rửa sạch hay sát khuẩn.
  • Tránh tiếp xúc gần với người nghi nhiễm hoặc đã bị nhiễm bệnh
  • Nên giữ khoảng cách với người khác trong cộng đồng tối thiểu 2 m
  • Che miệng khi ho hoặc hắt hơi bằng khăn giấy, rồi bỏ vào thùng rác. Không có khăn giấy thì dùng khuỷu tay để che miệng.
  • Tránh dùng bàn tay để che miệng vì bàn tay có thể chạm vào nhiều đồ dùng khác, làm cho mầm bệnh có cơ hội phát tán rộng
  • Không đến hoặc đi qua vùng đã được thông báo là đang có dịch lưu hành
  • Chế biến thức ăn phải được nấu chín kỹ
  • Hạn chế tập trung đông người
  • Khử trùng các đồ vật và bề mặt thường xuyên chạm vào.
  • Nếu nghi ngờ nhiễm bệnh, không nên đi ra ngoài mà hay gọi cơ sở y tế gần nhất để được hỗ trợ.

Để chủ động phòng, chống dịch covid-19 trong trạng thái “bình thường mới”, thực hiện “Thông điệp 5K” của Bộ Y Tế Việt Nam với các nội dung chính sau đây:

(1). KHẨU TRANG: đeo khẩu trang vải thường xuyên tại nơi công cộng, nơi tập trung đông người; đeo khẩu trang y tế tại các cơ sở y tế, khu cách ly.

(2). KHỬ KHUẨN: rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay. Vệ sinh các bề mặt/vật dụng thường xuyên tiếp xúc (tay nắm cửa, điện thoại, máy tính bảng, mặt bàn, ghế…). Giữ vệ sinh, lau rửa và để nhà cửa thông thoáng.

(3). KHOẢNG CÁCH: giữ khoảng cách khi tiếp xúc với người khác tối thiểu 2 m

(4). KHÔNG TỤ TẬP đông người, nơi đông người

(5). KHAI BÁO Y TẾ: thực hiện khai báo y tế trung thực, tử tế; cài đặt ứng dụng Bluezone để được cảnh báo nguy cơ lây nhiễm covid-19.

Cách ly cộng đồng:

Nhiều chính phủ của các quốc gia trên thế giới hiện đang bắt buộc hoặc khuyến nghị cách ly xã hội ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi dịch. Người lớn tuổi và những người mắc bệnh mạn tính phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng và các biến chứng từ covid-19 được khuyên nên tránh đám đông và ở nhà càng nhiều càng tốt.

Cách ly cộng đồng là cách kiểm soát nhằm làm chậm sự lây lan của bệnh bằng cách giảm thiểu tiếp xúc gần giữa các cá nhân bị bệnh hoặc nghi ngờ bị bệnh. Các phương pháp bao gồm thực hiện kiểm dịch, áp dụng các hạn chế đi lại, đóng cửa trường học, cơ quan, sân vận động, trung tâm mua sắm…. Thậm chí phong tỏa cả một khu dân cư.

Vacxin:

Tiêm vacxin là biện pháp phòng dịch chủ động, tạo ra miễn dịch cộng đồng, được coi là chìa khóa kiểm soát dịch hiệu quả nhất.

Mặc dù loại SARS-CoV-2 là chủng virut corona còn tương đối mới, nhưng các nhà khoa học đã nghiên cứu vacxin ngừa các loại virut corona khác trong nhiều thập kỷ qua. Các nghiên cứu bắt đầu vào năm 2003 trong đợt dịch SARS và tiếp tục vào năm 2012 trong đợt dịch MERS-CoV.

Khi nhận dạng được covid-19, sự tập trung toàn cầu vào việc loại bỏ loại virut corona mới này, kết hợp với những khoản tiền tài trợ lớn, đã giúp đẩy nhanh quá trình nghiên cứu để tạo ra một loại vacxin an toàn và hiệu quả. Trong đó dẫn đầu về phát triển vacxin là Hoa Kỳ.

Đến thời điểm hiện nay đã có nhiều loại vacxin phòng covid-19 được phê duyệt và đưa vào sử dụng, như vacxin Pfizer/BioNTech, Moderna, Johnson & Johnson, Vaxzevria (AstraZeneca), Sputnik-V…

Nước ta đang triển khai tiêm vacxin phòng covid-19 của AstraZeneca trên toàn quốc cho các nhóm đối tượng ưu tiên. Hiện công tác tổ chức tiêm được Bộ Y tế triển khai rất chặt chẽ, từ tiêm chủng đến tổ chức tập huấn toàn bộ hệ thống y tế từ cơ sở lên trung ương.

>> VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP NẶNG DO VIRUT CORONA CHỦNG MỚI (Covid-19) – PHẦN 1


Theo dõi chúng tôi trên Zalo: