Bệnh loãng xương là gì ?

Trang chủ Thông tin hữu ích Bệnh loãng xương là gì ?

LOÃNG XƯƠNG

Phần 1: Bệnh loãng xương là gì?

I. Đại cương về bệnh loãng xương
Khái niệm về bệnh loãng xương đã được nhà giải phẫu học J. Martin Lostein đề cập đến từ nửa đầu thế kỷ XVIII [4].
Bệnh loãng xương ngày nay đã trở thành vấn đề mang tính thời sự, được nhiều người quan tâm đến. Bệnh loãng xương thực chất chính là hậu quả của sự rối loạn trong cân bằng tạo và hủy xương, trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế. Hậu quả nặng nhất của bệnh loãng xương là gãy xương. Tuổi thọ trung bình càng cao, số người mắc bệnh ngày càng nhiều [7].
Ở những người trên 60 tuổi có khoảng 20% phụ nữ, 10% nam giới bị bệnh loãng xương [10]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ gãy cổ xương đùi do loãng xương trên thế giới sẽ tăng từ 1,7 triệu người năm 1990 lên 6,3 triệu người vào năm 2050. Ở Thái Lan, tỷ lệ gãy cổ xương đùi ở nam giới trên 60 tuổi khoảng 99/100.000 dân (ở nữ là 202/100.000 dân) [5].
Tại Mỹ, có khoảng 25 triệu người có mật độ xương thấp và 13 triệu người gãy xương do bệnh loãng xương [9]. Hàng năm, nước Mỹ chi phí tới hơn 14 tỷ đô la cho điều trị bệnh loãng xương và gãy xương [10].
Tại Pháp, số phụ nữ bị bệnh loãng xương sau mãn kinh khoảng 4,5 triệu người, nam giới khoảng 1,4 triệu người, trong đó 10% bị tàn phế với 3 – 5 nghìn trường hợp gãy cổ xương đùi hàng năm, chi phí nằm viện lên đến 1,350 tỷ Francs [6], [7].
Tại Việt Nam, số người mắc bệnh loãng xương đang gia tăng ở mức báo động. Có khoảng 2,8 triệu người mắc, dự báo đến năm 2030 số người bị bệnh loãng xương ở Việt Nam có thể lên đến 4,5 triệu người (tăng 172% – 174 %).
Bệnh loãng xương đang là một vấn đề lớn của y tế cộng đồng, thường diễn biến âm thầm, không có triệu chứng gì đặc biệt, cho nên rất khó phát hiện. Chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã nặng hoặc có biến chứng gãy xương. Lúc này việc điều trị chủ yếu là điều trị chứng và điều trị hậu quả do bệnh loãng xương gây ra, việc điều trị cũng chỉ góp phần làm giảm sự phát triển của bệnh. Do vậy, việc phát hiện sớm tình trạng loãng xương và dự phòng loãng xương ở những bệnh nhân có nguy cơ cao là điều hết sức quan trọng.
Để đánh giá độ loãng xương, người ta dựa vào nhiều phương pháp đo mật độ xương như siêu âm định lượng, đo hấp thụ tia photon đơn và kép, đo hấp thụ tia X năng lượng kép… Trong đó, đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép là một phương pháp tiên tiến, đơn giản và có giá trị chẩn đoán cao, được áp dụng rộng rãi trên thế giới.

II. Định nghĩa bệnh loãng xương

Định nghĩa của WHO 1993 (World Health Organization 1993) [4]: loãng xương là một bệnh lý của xương, được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương, dẫn đến tăng tính dễ gãy của xương, tức là có nguy cơ gãy xương. Do vậy, cần đo mật độ xương BMD (Bone mineral density) để đánh giá nguy cơ gãy xương.
Mật độ xương (BMD) theo chỉ số T (T-score) của một cá thể là chỉ số BMD của cá thể đó so với BMD của nhóm người trẻ tuổi (thường là nhóm khỏe mạnh, có khối lượng xương đỉnh, cùng chủng tộc) làm chứng. Trên cơ sở đó, có các giá trị của BMD như sau:
– BMD bình thường khi T-score > – 1: tức là BMD của đối tượng > – 1 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi.
– Giảm mật độ xương khi – 2,5 ≤ T-score ≤ – 1: tức là BMD từ – 2,5 đến – 1 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi.
– Loãng xương khi T-score < 2,5: tức là BMD dưới – 2,5 độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình của người trưởng thành trẻ tuổi, ở bất kỳ vị trí nào của xương.
– Loãng xương nặng khi T-score < 2,5 và kèm theo gãy xương. Vị trí gãy hay gặp là cổ xương đùi, đốt sống cổ, đầu dưới xương cẳng tay.
Định nghĩa của WHO 2001 [4]: loãng xương dược đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi cấu trúc của xương, chu chuyển xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy, tính chất của các chất cơ bản của xương. Trong đó, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng.
Chúng ta đều biết, quá trình hủy và tạo xương luôn liên tục diễn ra trong cơ thể, nếu quá trình này cân bằng thì mật độ xương sẽ bình thường. Nếu quá trình hủy xương lớn hơn tạo xương sẽ dẫn đến loãng xương. Tuy nhiên, nếu quá trình hủy và tạo xương cân bằng nhưng diễn ra quá nhanh (chu chuyển xương nhanh) thì gây ra giảm sức mạnh của xương. Do vậy, sức mạch của xương là một thông số rất quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả mật độ xương. Các thông số về sức mạnh của xương hiện đang được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tim ra các chỉ số có thể ứng dụng trên lâm sàng. Hiên nay, mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá sớm nhất tình trạng loãng xương và dự đoán gãy xương trên lâm sàng.

Phân loại loãng xương

Theo nguyên nhân, loãng xương được chia thành hai loại là loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát.
Loãng xương nguyên phát:
Là loại loãng xương không tìm thấy căn nguyên nào khác ngoài tuổi tác và/ hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Nguyên nhân do quá trình lão hóa của tạo cốt bào, làm xuất hiện tình trạng mất cân bằng giữa hủy xương và tạo xương, gây nên thiểu sản xương. Loãng xương nguyên phát được chia làm hai týp:
+ Týp 1: loãng xương sau mãn kinh, thường gặp ở nữ khoảng từ 50 – 60 tuổi, đã mãn kinh. Tổn thương chủ yếu là mất chất khoáng ở xương xốp (xương bè), biểu hiện bằng sự lún các đốt sống hoặc gãy Pouteau-Colles. LOÃNG XƯƠNG nhóm này thường xuất hiện sau mãn kinh từ 5 – 15 năm. Nguyên nhân do thiếu hụt estrogen, ngoài ra còn do giảm tiết hormon cận giáp trạng, tăng thải calci qua nước tiểu, suy giảm hoạt động enzym 25-OH-Vitamin D-1α hydroxylase.
+ Týp 2: loãng xương ở tuổi già, liên quan đến tuổi với sự mất cân bằng giữa tạo và hủy xương. Týp này gặp ở cả nam và nữ ở độ tuổi trên 70. Mất chất khoáng toàn thể cả xương xốp (xương bè) và xương đặc (xương vỏ). Biểu hiện chủ yếu là gãy cổ xương đùi. Loại này liên quan đến hai yếu tố quan trọng là giảm hấp thu calci, giảm chức năng tạo cốt bào dẫn tới cường cận giáp thứ phát.
– Loãng xương thứ phát:
Là loại loãng xương tìm thấy nguyên nhân do một số bệnh hoặc một số thuốc gây nên. Thường gặp trong các bệnh suy sinh dục, cường vỏ thượng thận, dùng nội tiết tố vỏ thượng thận kéo dài, cường cận giáp, cường giáp, rối loạn hấp thu, thiếu calci, bất động kéo dài, điều trị bằng heparin kéo dài.

Bs Vũ Văn Lực

Mời các bạn đón đọc phần 2!


Đăng ký theo dõi Kênh Video BÁC SĨ TƯ VẤN :

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí - Toàn bộ thông tin Vinh Gia cam kết giữ kín.

Nhóm bệnh (*):
Tư vấn qua(*):
Điền mã xác nhận:captcha

loãng xương, bệnh loãng xương

ĐỐI TÁC