Phương pháp điều trị vô sinh hiệu quả và thông dụng – P1

Trang chủ Thông tin hữu ích Phương pháp điều trị vô sinh hiệu quả và thông dụng – P1

1. Các phương pháp điều trị hiếm muộn hiện nay ở Việt Nam

Hiện nay việc điều trị hiếm muộn ờ Việt Nam phát nhanh so với trước đây. Các phương pháp được áp dụng bao gồm:

–         Hướng dẫn cách canh thời rụng trứng và giao hợp thời điểm rụng trứng.

–         Kích thích buồng trứng bằng thuốc để làm cho có trứng rụng (đối với trường hợp không rụng trứng) hoặc làm tăng số trứng rụng (bình thường mỗi tháng chỉ có một trứng) để tăng khả năng có thai.

dieu-tri-vo-sinh

–         Bơm tinh trùng đã lọc, rửa vào buồng tử cung- IUI (hay còn gọi là thụ tinh nhân tạo), phương pháp này thường kết hợp với dùng thuốc kích thích buồng trứng (thực hiện ở Việt Nam từ năm 1995)

–         Thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (khác với thụ tinh nhân tạo) chủ yếu cho những người bị tắc 2 vòitrứng (từ năm 1997).

–         Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng – ICSI: cho những người tinh trùng quá yểu và quá ít (từ năm 1998).

2. Khả năng thành công của thụ tinh trong ống nghiệm là bao nhiêu?

Khi nói về khả năng thành công khi điều trị hiếm muộn, bạn cần nhớrằng trong mỗi chu kỳ kinh (khoảng 1 tháng), một cặp vợ chồng hoàn toàn bình thường chỉ có khả năng có thai là 20 – 25% nếu không ngừa thai. Người ta thấy rằng khoảng 80 – 90% các cặp vợ chồng bình thường có thai trong vòng một năm mong con (khoảng 12 chu kỳ kinh).

Điều trị hiếm muộn là giúp phục hồi khả năng có thai bình thường của một cặp vợ chồng khi có vấn đề bất thường. Do đó, tỉ lệ thành công trong mỗi lần điều trị (mỗi chu kỳ) thường không quá 25%. Vì thế thường đa số các cặp vợ chồng điều trị hiếm muộn có thai sau nhiều chu kỳ điều trị (thường là 3).

dieu-tri-vo-sinh-1

3. Tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) là bao nhiêu?

Như đã nói trên, tỷ lệ thành công khi điều trị hiếm muộn, nói chung là vào khoảng 25%. Tuy nhiên, trong TTTON, người ta thường chuyển nhiều phôi (trung bình 3 phôi) vào buồng tử cung sau khi nuôi cấy bên ngoài cơ thể, nên có thể tăng tỷ lệ thành công lên 25% cho mỗi lần điều trị (nếu chuyển 1 phôi, tỉ lệ có thai thường không quá 15%).

Tỉ lệ có thai sau TTTON còn thay đổi tuỳ kinh nghiệm của từng trung tâm, tuỳ đối tượng bệnh nhân điều trị. Ví dụ, các trung tâm nhận trẻ tuổi (dưới 35) thường có tỉ lệ thành công cao hơn, các trung tâm nhận bệnh nhân trên 40 tuổi thường có tỉ lệ có thai thấp hơn.

Ở bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ, trong năm 2000, tỉ lệ có thai lâm sàng (khi siêu âm thấy túi thai trong tử cung) sau khi chuyển phôi là khoảng 35%. Tỉ lệ này tương đương với mức trung bình của các nước phát triên.


Đăng ký theo dõi Kênh Video BÁC SĨ TƯ VẤN :

Đăng ký nhận tư vấn miễn phí - Toàn bộ thông tin Vinh Gia cam kết giữ kín.

Nhóm bệnh (*):
Tư vấn qua(*):
Điền mã xác nhận:captcha

dieu tri vo sinh

ĐỐI TÁC